Monday, August 14, 2006

Người về phong kiếm thành Linh Vũ



 Tựa:


Thuở ấy Lãng đi công vụ miền Tây Vực đến thành Tát Mã Nhĩ Hãn, may gặp dịp được cùng dự yến với quần hùng cõi tây. Trên tiệc có rượu ngon nhắm tốt, ca hay múa khéo, cũng không cần phải nói kỹ. Khi rượu đã ngà ngà, chợt có một người tuổi trẻ, mình mặc áo gấm, dáng vẻ hùng tráng từ chiếu trên trỗi dậy, tuốt kiếm bước ra giữa tiệc múa hát, phong thái tiêu sái ngang tàng hiếm thấy. Ánh kiếm xanh biếc, bóng người linh loạn, làm chao đảo cả không gian trong trướng. Còn tiếng hát âm điệu kích ngang khảng khái, rõ ràng là bài "Lương Châu", quần hùng đều dừng chén lẳng lặng ngồi nghe.


Bỗng đâu nảy tiếng tỳ bà thánh thót, rõ ràng là đàn ngọc dây tơ chứ đâu phải đàn sắt dây đồng, mà sao nghe thổn thức não lòng thế? Lãng ngồi chiếu dưới ngoảnh lên trông, chỉ thấy một nữ lang áo trắng, khăn trùm lệch tóc, mạng che ngang mặt, chẳng biết đã ngồi sau rèm từ khi nào, tay ôm chiếc tỳ bà ngọc bích hòa tiếng hát mà gảy theo. Điệu hát "Lương Châu" bi tráng quyện vào tiếng đàn thê thiết, chạm đến nỗi bi thương vạn cổ của đời chiến tướng, khiến trên yến tiệc không ít người não lòng rơi lệ.


Tiệc vãn, Lãng hỏi ra mới biết người múa kiếm ấy họ Lệnh Hồ, sứ quân Mạc Tư Khoa, thống lĩnh quần hùng bên kia Lý Hải, nắm tinh binh vài mươi vạn, lại thêm đảm lược hùng tài, kết giao rộng rãi, tiếng tăm lan truyền phía tây dãy Thiên Sơn. Còn nữ lang kia đi cùng vị tướng quân, thế mà chẳng rõ họ tên, cũng chẳng biết thân phận, có lạ hay không? Định tìm dịp hỏi thăm, nhưng sáng sớm hôm sau Lãng theo đường Y Lê trở lại Trung Nguyên, vị tướng quân ấy cũng cùng nữ lang trở về miền tây, từ ấy không có dịp nào gặp lại nữa.


Mấy năm sau chiến sự Trung Nguyên ác liệt, Tiêu Dao phái ngày càng thất thế, bị đẩy khỏi đất Triệu; miền Tần, Lũng cũng mất, phải lui về Tây Hạ, phía đông Hoàng Hà chỉ còn giữ được thành Linh Châu. Năm sau, nhân trong Thục có biến, đường sàn bị đốt, đầu mùa đông năm ấy Lãng tập hợp Tiêu Dao phái ở Linh Châu, liên kết các đồng minh Thư Kiếm, Thiên Di, Cơ Phụ, tám đạo quân xuất kỳ bất ý vượt qua Tiêu Quan, chiếm lại Trường An rồi thẳng xuống Lạc Dương. Đại chiến Hoàng Hà Độ, kẻ thù tan vỡ, đất Trung Nguyên một thoáng đều bình định. Tin tức truyền đi bốn phương, thiên hạ chấn động!


Đại yến khao quân bên bờ sông Hoàng Hà, đêm ấy tuyết lớn nhưng tiệc mừng cũng lớn, các doanh trại đèn đuốc sáng trưng như ban ngày, ánh lửa kéo dài cả trăm dặm. Quân đội đua nhau giết trâu mổ bò, chiến sĩ tụ tập ăn uống ca hát, vui vẻ không thể tả xiết. Nơi soái doanh tinh kỳ phấp phới, giáo kích trập trùng, trong hổ trướng thịt bày đầy mâm, rượu chảy như suối. Đàn sáo tấu "Thập diện mai phục", chuông khánh gióng "Tần vương phá trận", hào khí ngất trời.


Giữa lúc quần hùng say sưa yến ẩm, bỗng đâu cửa trướng vén lên, hoa tuyết bay tán loạn, rồi một người cúi mình bước vào cất tiếng chào: dáng vẻ tiêu sái hiên ngang, mình mặc áo gấm tuyết, đầu đội mũ lông điêu, ngang lưng đeo lệch thanh bảo kiếm, phảng phất phong độ hào hoa chiến tướng. Lãng ngỡ ngàng dụi mắt trông kỹ, chẳng phải là Lệnh Hồ tướng quân năm xưa từng gặp ở thành Tát Mã Nhĩ Hãn một lần hay sao? Trong số các chiến tướng Thư Kiếm, Thiên Di, Cơ Phụ có không ít người Nga La Tư, Ô Khắc Lan, Cáp Tát Khắc, hết thảy đều cất tiếng chào mừng. Chưa kịp mời ngồi, lại thấy một người nữa bước theo vào trướng, toàn thân áo trắng, phong tư yểu điệu, tay ôm chiếc đàn tỳ bà ngọc bích, chính là nữ lang gảy đàn trong trướng năm xưa, chỉ có điều lúc ấy mặt không che mạng, rõ ràng tóc xanh môi nhạt, da phấn mặt hoa, nét đoan trang diễm lệ hơn người, vẻ nghiêng nước nghiêng thành khó giấu. Lệnh Hồ tướng quân nói: "Đây là chuyết kinh." Nữ lang khẽ nghiêng mình cúi chào, hơi nhoẻn miệng cười, rồi hai người cùng sóng vai ngồi vào chiếu trên cạnh Lãng.


Quần hùng đều nâng chén hỏi han, trò chuyện mỗi lúc một cao hứng. Rượu chuốc nghìn vạn chén mà chiến tướng vẫn chưa say. Chỉ có nữ lang kia ngồi lặng lẽ mỉm cười không nói năng gì, mắt chẳng liếc ngang, nhưng vẻ yêu kiều cũng đủ xiêu lòng người hữu ý. Lãng nâng chén dạ quang mời rượu, nàng cũng mỉm cười nhắp chén đáp lại, phong thái đoan trang nhã khiết lạ thường. Chung quy vẫn chưa biết rõ nữ lang ấy tên họ là gì, gốc gác phương nào, Lãng không hỏi đến, mà nàng cũng chẳng nói.


Yến tiệc kéo dài đến tận sáng mới tan, ngoài trời mưa tuyết rơi càng nặng, dầy đến một thước. Tướng sĩ các xứ đều ai về trại nấy, hào kiệt phương xa cũng từ tạ lên đường. Anh hùng cùng nữ lang sóng ngựa về tây, bóng người chẳng bao lâu đã mờ khuất trong bóng tuyết, chỉ còn thấy dáng núi Hạ Lan trắng xóa.


 
o0o


Người về phong kiếm thành Linh Vũ 

Lệnh Hồ tướng quân uy vũ thay!
Danh tiếng bao năm trấn hải tây
Cõi đất phân chia hào kiệt khởi
Phương trời riêng một ngọn cờ bay
Hùng binh trăm vạn thế vô địch
Nghĩa khí nghìn thu ai sánh tày?
Toàn thân mưu lược kiêm văn võ
Anh hùng thiên hạ thực là đây.
Thuở ấy võ lâm tràn máu chảy
Vạn quốc tứ phương cùng nổi dậy
Sa trường khói bụi ruổi theo nhau
Hào kiệt trên đời dễ gặp đâu!
Nhân buổi quân trung đêm đại yến
Lãng may có dịp cùng tương kiến
Nhung hiên tiêu sái vẻ hào hoa
Bồ đào rượu ngát mùi chinh chiến
Dở say ngừng chuốc dạ quang bôi
Giữa chiếu múa lộng Thanh Minh Kiếm
Trước trướng lung linh bóng kiếm bay
Sau rèm nức nở tỳ bà đệm.
"Lương Châu" xao xác dễ tiêu hồn
Tướng sĩ bao người mắt lệ tuôn
Chớ bảo anh hùng gan sắt đá
Xưa nay chinh chiến mấy ai còn?

Rượu vãn đêm thâu nói chuyện suông
Thoảng thấy dung nhan đã vấn vương
Đêm hết, tiệc tàn, trời xuống tuyết
Đôi đường dứt áo thành ly biệt
Từ ấy xa xăm mấy vạn trùng
Người về tây bắc, Lãng sang đông
Cờ bay Hãn Hải âm thư vắng
Quân xuống Hoàng Hà cát bụi tung
Nằm gai nếm mật bao gian khổ
Tiêu Dao nghiệp lớn còn dang dở
Trở về Tây Hạ chí chưa cam
Bao phen thù hận vẫn căm gan.
Chẳng được xông pha giữa chiến trường
Suốt đời ôm mãi mối bi thương
Ba năm nhẫn nhịn lòng khôn thỏa
Một buổi vùng lên chí vẫn cuồng
Khắp miền Vị Bắc tràn khói lửa
Một dải Hà Nam đẫm máu xương
Sáu quân dồn lại thành Linh Vũ
Cờ đỏ bay về đất Lạc Dương
Lễ hội khao quân mừng đại thắng
Tám lộ anh hùng khắp bốn phương.
Viên môn giáo kích chật như rừng
Hổ trướng đêm khuya đuốc sáng trưng
Rượu ngon nhắm tốt đều không thiếu
Múa đẹp ca hay càng yểu điệu
Chiến tướng say sưa bóng áo hồng
Bốc rời lụa thưởng gieo trên chiếu.
Chỉ riêng mình Lãng mãi trầm ngâm
Chén rượu bồ đào nhớ cố nhân
Bi hoan ly hợp người thêm lão
Hoa nở hoa tàn đã mấy xuân?
Quân trung đại yến năm năm trước
Từng có duyên may gặp một lần
Tiếng ai cười nói nghe quen quá
Thoảng bóng nhung hiên lại ngỡ nhầm.

Là thực hay nhầm? Đâu dám chắc
Rõ ràng áo chiến ngay trước mắt
Hãy còn vẻ cũ dáng hào hoa
Trướng mở tơi bời ánh tuyết sa
Anh hùng cùng sánh vai người đẹp
Hương lạnh mơn man nếp áo là
Lưng chàng đeo lệch Thanh Minh Kiếm
Tay nàng ôm nhẹ ngọc tỳ bà.
Người đẹp dịu dàng trang khuynh quốc
Tóc đen áo trắng càng tha thướt
Ôn nhu thư thái vẫn hơn đời
Má hồng môi nhạt vẻ xinh tươi
Giũ nghiêng vạt áo tay như ngọc
Gạt tuyết trên vai khẽ mỉm cười
Giữa tiệc bao anh hùng ngơ ngẩn
Ly rượu lơ là chiếc đũa rơi
Trầm trồ khen mãi duyên trời định
Hào kiệt giai nhân khéo sánh đôi
Sóng vai an tọa cùng nâng chén
Mãi hỏi thăm nhau chửa hết lời
Cố nhân cùng với tân nhân đến
Nghe tin đại thắng Hoàng Hà chiến
Vạn dặm xa xôi lại chúc mừng
Anh hùng tám lộ cũng vui chung
Tình nghĩa giang hồ khôn xiết kể
Năm châu bốn biển đều huynh đệ
Đua nhau cùng chuốc chén hạ công
Riêng có một người ngồi lặng lẽ
Đầu tiệc hoa đăng bóng chập chờn
Ngơ ngác môi cười vẫn héo hon
Trong dạ ngổn ngang trăm mối ý
Vui cũ sầu mới cùng đổ dồn!
Sớm mai tan tiệc lại chia bào
Chẳng khác phân ly một thuở nào
Giai nhân hào kiệt cùng lên ngựa
Riêng người ở lại buồn nao nao.
Trời tây mờ mịt mưa tuyết đổ
Bóng ai xa khuất Thiên Sơn lộ
Khói lang lặng ngắt Ngọc Môn Quan
Gửi gió xuân theo dấu lệ tràn
Người về phong kiếm thành Linh Vũ
Tuyết rụng tơi bời núi Hạ Lan.

Linh Vũ, Tây Hạ, 04/08/2004
 
o0o
 

Mấy hôm trước nhân nhặt được một bài thơ cũ về L., chẳng hiểu sao cảm xúc lại chứa chan và thế là lôi bài cổ phong này lên đăng lên blog chẳng hiểu để làm gì nữa... Tôi làm thơ vốn không hay, nhưng trong số những thứ tôi viết ra có thể gọi là "thơ", thì bài cổ phong “Người về phong kiếm thành Linh Vũ” này là bài thơ tôi yêu thích nhất. Nhớ lại tình cảnh khi ấy, cảm xúc ấp ủ suốt một tuần, rồi chỉ trong vòng nửa ngày tuôn ra hơn một trăm câu thơ thất ngôn, câu câu chữ chữ bề ngoài đều nhạt nhẽo lãnh đạm như bản tính của người viết, nào có ai hiểu được nỗi xót xa u hoài ẩn chứa sau vẻ trầm ngâm đó?


 

9 comments:

Koko said...

Thơ rất hào hùng. Nice poem :)

Wiruzky von Lanzet said...

Nhớ vịt con nhiều lắm. Đi chơi mà không có vịt con cũng mất vui đi mấy phần...

Y Lê (Ili) là tên gọi một vùng đất xung quanh lưu vực sông Y Lê (Ili river). Sông này bắt nguồn trong dãy núi Thiên Sơn, chảy về phía đông một đoạn ngắn rồi đột ngột quay về phía tây, sau đó vượt hơn một nghìn cây số trước khi đổ vào hồ Balkhash. Miền Y Lê nằm về phía bắc dãy Thiên Sơn, cư dân chủ yếu là người Uyghur (Duy Ngô Nhĩ) và Kazazh (Cáp Tát Khắc). Dưới thời nhà Thanh, miền Y Lê hoàn toàn thuộc về Trung Quốc; người Nga chiếm Y Lê năm 1871, sau đó vài năm Tả Tông Đường chiếm lại một nửa phía đông miền Y Lê. Biên giới hai nước được định lại như ngày nay vào năm 1881, và ngày nay miền Y Lê xưa kia nằm trên lãnh thổ nước Kazazhstan và miền tự trị Tân Cương thuộc Trung Quốc.

Do nằm về phía bắc dãy Thiên Sơn, nên miền Y Lê đời Thanh còn thường được gọi là Thiên Sơn Bắc Lộ; trong "Ngọa hổ tàng long", cha của Ngọc Kiều Long đã từng làm quan ở miền này, và chính ở đây nàng đã gặp và thất thân với La Tiểu Hổ. Còn phía nam Thiên Sơn thường gọi là Thiên Sơn Nam Lộ, nơi Hoắc Thanh Đồng đã lãnh đạo người Hồi nổi dậy chống lại nhà Thanh, được miêu tả trong "Thư kiếm ân cừu lục".

Thực ra vùng đất Y Lê đã nằm dưới ảnh hưởng Trung Quốc từ thời nhà Hán, nhà Đường, khi ấy thường gọi là Luân Đài (là tên cũ của Urumqi). Trong các bài thơ Đường tả cảnh biên tái thường nhắc đến miền này với những cảnh hoang vu gió tuyết. Sầm Tham có câu: "Luân Đài đông môn tống quân khứ, khứ thì tuyết mãn Thiên Sơn lộ", hùng tráng tuyệt vời! Vào thời Tống, Nguyên, Minh, Trung Quốc không kiểm soát được miền này. Vào thời nhà Thanh, Y Lê là miền đất xa nhất về phía tây thuộc về Trung Quốc, thủ phủ là Ô Lỗ Mộc Tề (Urumqi). Trong các truyện kiếm hiệp về thời nhà Thanh hay nghe cụm từ "đày đi Y Lê", đó là một hình phạt nặng, vì đi từ Bắc Kinh đến Y Lê phải mất vài tháng mới tới nơi. Đại Thanh đệ nhất tài tử Kỷ Quân còn gọi là Kỷ Hiểu Lam từng bị đi đày ở đây.

Xem trong bản đồ này, mô tả đế quốc Đại Thanh năm 1760, có thể thấy vị trí của "Protectorate of Ili" nằm gần góc trên bên trái của bản đồ).
http://map.huhai.net/58-59.jpg

vitcon said...

Y Le^ la` o ddau vay Virus? COi That Kiem co' nghe nhac toi dia danh na`y ma ko ro~ no' nam o dau

Wiruzky von Lanzet said...

Duy Ngô Nhĩ (chứ ko phải là Ngô Duy Nhĩ) chẳng có ý nghĩa gì trong tiếng Hán cả, chỉ là phiên âm cái tên Uyghur mà người dân tự gọi dân tộc học thôi. Duy Ngô Nhĩ phát âm là /Wéiwú'ěr/.

Y Lê và Tân Cương thuộc Trung Á chứ ko phải Nam Á.

Wiruzky von Lanzet said...

Thôi chết, lỡ tay "Remove Comment" cái comment trên của vịt con rồi :(( Cái 360.yahoo này dở quá, người ta lỡ tay một cái là del luôn, chẳng có confirm gì cả...

ThieuVan said...

đây là một trong những bài thơ đệ thích nhất khi mò mẫm lên maihoatrang học hỏi,biết được nhiều người tài, theo dõi và đọc bài viết :)Đệ ko hiểu bài thơ nói về gì, nhưng thấy được cái ý chí hào hùng ẩn chứa trong đó, dài vậy nhưng đọc rất liền mạch không dứt được. Ngôn từ và ý thơ của huynh thật bội phục.

Vân Hà said...

Lyli có ý kiến nhỏ nhé. Trung quốc bây giờ cũng dùng văn Bạch thoại rồi chứ không còn dùng Văn Ngôn nữa. Nên chăng chúng ta cũng nên Việt hóa hơn những từ Hán Việt. Biết rằng dùng không dùng từ Hán Việt thì sẽ mất đi cái không khí cổ kính, trang nhã và rất khó diễn đạt nhưng nếu không văn dịch Trung quốc sẽ xa dần với cuộc sống hiện đại.
Ví dụ như trong phần Tựa, nói "nữ lang" không phải ai cũng hiểu hết được nghĩa của từ này. Tại sao lại không thể dịch là Nàng, hoặc Thiếu phụ. Nó nghe gần gũi quen thuộc hơn.

Wiruzky von Lanzet said...

Hi Lyli, câu chuyện này lấy bối cảnh là thời Tống - Kim, đầu thế kỷ mười ba, chứ không phải là bối cảnh hiện đại. Vậy nếu nó mang không khí thời xưa thì cũng không phải là điều khó hiểu.

Thơ viết về đề tài kiếm hiệp, tất nhiên những người thích đọc kiếm hiệp sẽ hiểu ngôn ngữ sử dụng trong đó. Những người không phải là nhân vật giang hồ thì không hiểu cũng không sao... Thật ra so với người khác thì tại hạ đã rất hạn chế sử dụng ngôn từ kiếm hiệp rồi. Còn hai chữ "nữ lang" là chữ tại hạ dùng theo văn bạch thoại của Bồ Tùng Linh đấy chứ. Hai chữ này tuy dùng nhiều trong tiếng Nhật, nhưng tiếng TQ hiện đại cũng dùng mà...

Vân Hà said...

Lâu quá rồi bận không qua nhà bạn được, tới hôm nay mới đọc comment này của Virut.
Có lẽ mình và Virut không giống nhau rồi. Mình hiểu đó là không khí cổ, mình đã từng bị mê hoặc và rất thích không khí ấy. Mình đọc không nhiều truyện kiếm hiệp nhưng chắc là có thể cảm nhận được những cái đẹp trong truyện.
Nhưng khi học tiếng Trung mình thấy Trung quốc gần gũi và đơn giản hơn là những gì mình tưởng tượng. Mình chỉ muốn rằng những người Việt nam khi đọc tác phẩm dịch có thể hiểu được 1 cách gần trọn vẹn chứ không phải chỉ là qua cảm nhận. Vì theo mình nét đẹp vốn sẵn có trong cuộc sống chứ không phải ở 1 thế giới quá xa xôi. Đôi khi mình có cảm nhận rằng những câu chuyện quá đẹp và thơ mộng của Trung quốc dù thể hiện người dịch có 1 tâm hồn đẹp và đã nâng cái đẹp của truyện lên nhưng lại quên đi cái đáng quý trong bản thân mình. (những người Việt nam yêu truyện kiếm hiệp chứng tỏ trong lòng họ cũng có những vẻ đẹp tinh hoa của kiếm hiệp. Nhưng mọi người quá thần thọai thế giới kiếm hiệp mà không coi trọng hay có khi xem nhẹ hoặc chán chường cái tâm hồn Việt của mình)
Còn về từ 女郎không xét là trong tiếng Trung ra sao nhưng mình hỏi Viut rằng nhà văn Việt nào sử dụng từ Nữ lang trong tác phẩm?